Mão
20049502_10154508877041207_1409430470_o

MÃO HIỆP CHƯỞNG

Mã sản phẩm: M017.

Chất liệu: Gấm Nhật.

Mô tả: Từ chất liệu gấm xưa dệt thủ công của Nhật, Phạm Nghiêm Trai tỉ mỉ cẩn chế chiếc mão Hiệp Chưởng theo phong cách Huế. Lấy hoa văn Phụng Hoàng kết hợp màu sắc hài hòa giữa các phần, càng làm tôn lên giá trị của mão. 

Code: 012v00941

Chia sẻ:

Mão Hiệp Chưởng là mão Tăng Quan của chư Tôn Đức Tăng ngày xưa được phong chức “Tăng Cang” trong triều đình nhà Nguyễn Việt Nam. Theo sách [Tăng Sử Lược] chép “Tăng Cang là danh xưng của chức quan của triều đình phong tặng cho các vị cao Tăng trong Phật Giáo, chưởng quản thống lãnh đạo toàn bộ Tăng Ni trong cả nước.”. Trong [Tăng Quan] chép: “Chức vụ Tăng Cang gồm có:

1/ Pháp vụ Tăng Cang quản lý sự vụ của Tăng Ni và Tự Viện trong toàn quốc

2/ Oai nghi sư Tăng Cang làm giám luật mô phạm cho Tăng Ni

Chế độ Tăng Quan có rất sớm trong Phật Giáo Bắc Truyền, ở Trung Quốc chế độ Tăng Quan có từ thời Ngụy Tấn Nam Bắc Triều (280 -588), ở Hàn Quốc có từ thời Tân La (550), ở Nhật Bản có từ thời Thôi Cổ Thiên Hoàng (642), ở Việt Nam có từ thời triều Vua Đinh Tiên Hoàng (933-1011).

Vị Hòa Thượng được phong chức Tăng Cang đầu tiên của triều Nguyễn là Thiền Sư Tổ Ấn Mật Hoằng (1735-1835). Theo sách [Đại Nam Nhất Thống Chí, Thừa Thiên Phủ] chép: “Năm Gia Long thứ 13, vua triệu Hoằng về kinh cấp cho chức Tăng Cang trụ trì chùa Thiên Mụ, quán thống tăng chúng…”. Theo [Việt Nam Phật Giáo Sử Lược] của  Thượng Tọa Mật Thể ghi: “Niên hiệu Gia Long năm Ất Hợi (1815) vua sắc sửa lại chùa Thiên Mụ và triệu Ngài Mật Hoằng vào kinh cấp bằng Tăng Cang.” Chế độ phong chức Tăng Cang cho các vị tôn đức Tăng ở Việt Nam được duy trì cho đến đời vua Bảo Đại vị vua cuối cùng của triều Nguyễn.

Mão Hiệp Chưởng có nghĩa là mão chắp tay, mão quy mạng, mão đãnh lễ . Sách [Thích Thị Yếu Lãm] chép: “Hiệp chưởng là chỉ chắp tay vậy” trong [Pháp Uyển Châu Lâm] chép: “chắp tay nếu như ngón tay chắp lại mà hai bàn tay không đụng nhau thì không phải chắp tay vậy… cho nên hiệp chưởng là sự hợp nhất của hai bàn tay và ngón tay…”  Mão Hiệp Chưởng có hình dáng như một đôi bàn tay chắp lại, trong hình dáng của đôi bàn tay chắp lại có ba nền gấm được may ba màu khác nhau, ba nền gấm tượng trưng cho Tam Thân Phật, vành màu vàng lớn nhất tượng trưng cho Thanh Tịnh Pháp Thân Phật, vành màu xanh đậm tượng trưng cho Viên Mãn Báo Thân Phật, vành màu đỏ tượng trưng cho Thiên Bá Ức Hóa Thân Phật. Phật Giáo khi truyền vào Đông Độ vào đời Ngài Huệ Viễn ở Lô Sơn lập ra thuyết “Sa Môn Bất Bái Quân Vương” cho nên khi Chư Tăng đội mão, trên mão có Phật cho nên không tiện lễ bái nhà vua. Vì là mão Tăng Cang thuộc quan mão do bộ lễ của triều đình chế, cho nên có ảnh hưởng học thuyết Tam Cang của Nho Giáo, nhưng Tam Cang của Phật Giáo không nằm trong học thuyết này. Trong [Đại Tống Tăng Sử Lược] chép: “Duy Na, Tự Chủ, Thượng Tọa là chức vụ của Tăng, thường được gọi “Tự Viện Tam Cang”. Tam Cang đều có chức vụ quyền hạn của riêng từng bộ phận. Duy Na Cang coi việc Tăng sự, Tự Chủ Cang tổng quản tự viện, Thượng Tọa Cang coi về giới luật trong chùa.”

Ngoài mão Hiệp Chưởng được may bằng gấm ở Huế ra thì mão Hiệp Chưởng của miền trong từ Bình Định vào tới Miền Nam không may bằng gấm mà được may bằng nhung hoặc nỉ, trên nền của mão có thêu hình Phạn tự và hoa văn để trang trí, nền lớn thứ nhất có màu đen hoặc vàng thường đính hạt kim sa chữ Án Dạ Hồng, biểu thị tổng trì nhất thiết pháp giới “Đại Quang Minh Tạng”. Nền thứ hai thường có màu xanh đậm hoặc màu đỏ mỗi mặt thêu hình năm ngón tay tượng trưng cho “qui mạng hiệp chưởng”. Nền thứ ba thường có màu với nền thứ nhất có kết cườm hình hai trái Phật thủ và hoa văn thị ý “Nhất nhất biến lễ sát trần Phật”.

Ngày nay chế độ Tăng Cang không còn nữa nhưng mão Hiệp Chưởng nói riêng và Tăng mão Phật Giáo Bắc Truyền nói chung vẫn còn nguyên giá trị của mình, trở thành mão của các vị Tôn Đức niên cao lạp trưởng, đức cao vọng trọng trong Phật Giáo, được chư Tôn Trưởng Lão đội để chứng minh hay làm sám chủ trong những Giới Đàn, Đàn Tràng Pháp Hội long trọng trang nghiêm của Phật giáo, Mão Hiệp Chưởng không những làm tăng thêm sự trang nghiêm long trọng cho pháp hội mà còn thể hiện mật ý Tam Thân Phật quang lâm đạo tràng, tô đậm thêm màu sắc giới đức của các bậc Trưởng Lão, làm tăng thêm nét cổ kính của sắc phục Tăng già, tạo dựng một cảnh giới Tịnh Độ ở nhân gian.

Chưa có đánh giá nào.